THÁP NHU CẦU MASLOW - LÝ THUYẾT QUAN TRỌNG BẬT NHẤT TRONG KINH DOANH & CUỘC SỐNG.

Điều quan trọng nhất trong cuộc sống, không phải là ta đạt được những gì, ta thành công tới mức nào, ta "kinh khủng" hơn người khác ra sao.. mà quan trọng nhất là ta hiểu ta tới mức nào và hiểu mọi thứ "vận động" như thế nào?

Có một câu nói của một vĩ nhân nào đó, đại loại: "Bản chất của cuộc sống, là ta trong cả cuộc đời của mình, đi tìm lời giải cho câu hỏi: ta là ai?".

Mấy ai hiểu được, mình là ai! Mấy ai hiểu được, người khác như thế nào! Mấy ai hiểu được, ta sinh ra để làm gì!

...

Kinh doanh là một hoạt động của cuộc sống. Ở đó, ta tìm cách đáp ứng một nhu cầu hoặc giải quyết một vấn đề cho người khác.

Nhưng, người khác cần gì? To lớn hơn, xã hội cần gì?
Ta có thể đáp ứng được những gì?

Quan sát trên "hiện tượng" thì ai mà không hiểu cuộc sống là gì, kinh doanh là gì ?
Nhưng, xét trên "bản chất", mấy ai hiểu được cặn kẽ nó!

Kinh Doanh Và Cuoc Song.
Kinh Doanh & Cuộc Sống.


THÁP NHU CẦU MASLOW.

Hệ thống nhu cầu của Maslow là một lý thuyết về tâm lý học được đề xuất bởi Abraham Maslow. Từ khi ra đời (1943), nó được coi là một "hình mẫu" trong nghiên cứu tâm lý và nghiên cứu hành vi.

Sinh viên các ngành xã hội (kinh tế, truyền thông, sư phạm ..) có thể không quá xa lạ với lý thuyết này. Nhưng, liệu rằng ta đã hiểu được "sâu sắc" nó, và  những gì mà nó mang lại.

Về cơ bản, tháp nhu cầu Maslow là sự phát triển của các "học giả" bằng cách hình tượng hóa hệ thống nhu cầu Maslow một cách dễ hiểu nhất. Ở đó, các nhóm nhu cầu được phân cấp bằng các tầng theo dạng hình tháp.


- Tầng 1 - Nhu cầu sinh lý (bản năng thể lý):

Nó là tập hợp những nhu cầu thiết yếu nhất để một người duy trì cuộc sống và duy trì nòi giống. 

Có thể kể đến: thức ăn, nước uống, giữ ấm, chỗ ngủ, nghỉ ngơi, hít thở, bài tiết, tình dục... 

Không có những thứ đó, ta không sống được, bởi vì nó là nhu cầu thể lý, nó là sự đáp ứng tối thiểu của một sinh vật sống.

Đó là những nhu cầu "vô thức", những ham muốn mang tính chất phần "CON" nhất trong "khái niệm CON NGƯỜI".

Biểu hiện của nó thể hiện ở: "TÔI CẦN......".

Khi một người không có sự hài lòng hoặc không đáp ứng được một mức nhất định nhu cầu sinh lý, họ vẫn sẽ "loay hoay" tìm cách đáp ứng nó mà hầu như không quan tâm đến những nhóm nhu cầu cao hơn. Ngược lại, khi nhóm nhu cầu sinh lý được đáp ứng ở một mức nhất định, họ sẽ chuyển dần "sự chú ý" sang những nhu cầu ở bậc cao hơn trong tháp nhu cầu.


- Tầng 2 - Nhu cầu an toàn (bản năng tự vệ):

Đó là tập hợp những nhu cầu cần thiết để một người cảm thấy được an toàn, được bảo vệ, được sống.

Cảm giác lo lắng, sợ hãi, bối rối, tức giận, trốn tránh.. là cảm giác bản năng khi nhu cầu an toàn không được đáp ứng. 

Có thể kể đến: 
+ An toàn thể xác: sợ bị đánh, sợ bị giết, sợ bị xâm hại, sợ chiến tranh, sợ bị cắn..; 
+ An toàn cảm xúc: sợ bị chỉ trích, sợ bị xúc phạm, sợ bị phản bác, sợ những điều không tự giải thích được, sợ bị lợi dụng, sợ mất tự do..; 
+ An toàn tài chính: sợ mất việc, sợ không có thu nhập, sợ mất tài sản..;
+ Sức khỏe và hạnh phúc: sợ chết, sợ bệnh tật, sợ ô nhiễm, sợ gia đình tan vỡ..; 
Riêng sợ ma - quỷ, thế lực tâm linh.. không biết nên coi là an toàn thể xác hay an toàn cảm xúc? 

Đó là những nỗi lo lắng bản năng, nó đã mặc định sẵn trong mỗi người, chúng ta không thể tách rời chúng mà chỉ có thể chống lại hoặc đáp ứng với chúng. 

Pháp Luật, Y tế là những sự đáp ứng mạnh mẽ nhất mà xã hội loài người phát triển nên, để chống lại nỗi lo lắng của nhu cầu an toàn.

Biểu hiện của tầng nhu cầu này thể hiện ở: "TÔI CẦN ........".

Khi sự đáp ứng cho nhu cầu an toàn đến một mức độ đủ khiến một người cảm thấy yên tâm. Họ sẽ chuyển sự chú ý đến tầng nhu cầu cao hơn.


- Tầng 3 - Nhu cầu kết nối, tình cảm (bản năng "xã hội"):

Theo Maslow, con người sở hữu một nhu cầu tình cảm về cảm giác muốn được thuộc về và được chấp nhận trong một nhóm xã hội nào đó dù lớn hay nhỏ. 

Giải thích theo ý nghĩa sinh học thì nhu cầu này được hình thành và di truyền dựa vào tính bầy đàn trong quá trình tiến hóa. Tính bầy đàn tạo lợi thế cạnh tranh rất lớn để loài người phát triển, và nó cũng là một trong những tác nhân chính để hình thành xã hội bậc cao ngày nay. 

Nó là bản năng, chứ không phải là nhu cầu do sự trải nghiệm như quan điểm xã hội thuần túy. 

Có thể kể đến các hình thái của nhu cầu này: tình cảm gia đình (ông - bà - cha - mẹ - anh - chị ...), tình bạn, tình làng xã, hội nhóm, tôn giáo, tình đồng nghiệp.. 

Riêng tình yêu và xây dựng gia đình, nó chịu tác động của cả 3 nhu cầu: duy trì nòi giống (nhu cầu sinh lý), nhu cầu kết nối - tình cảm, và sự hãnh diện (nhu cầu được tôn trọng).

Biểu hiện của tầng nhu cầu này thể hiện ở: "TÔI MUỐN ...........".

Khi nhu cầu kết nối, tình cảm được đáp ứng ở một mức độ nào đó, mọi người sẽ chuyển dần sự chú ý đến tầng nhu cầu cao hơn.

Tuy nhiên, vì đây không phải là một nhu cầu thiết yếu, nên tùy với mỗi người khác nhau, sự đáp ứng đủ để mang đến hài lòng có thể ở những mức độ khác nhau. Với một thiểu số người, nhu cầu này có thể không cần thiết.


- Tầng 4 - Nhu cầu được tôn trọng (bản năng hãnh diện, tự tôn):

Ở cấp này, nhu cầu của con người đề cập đến việc mong muốn được người khác coi trọng, chấp nhận. Họ bắt đầu nỗ lực, cố gắng để để được người khác công nhận. Nhu cầu này thể hiện ở lòng tự trọng, tự tin, tín nhiệm, tin tưởng và mức độ thành công của một người.

Nhu cầu được tôn trọng trong tháp nhu cầu Maslow được chia làm 2 loại:

- Mong muốn danh tiếng, sự tôn trọng từ người khác: được thể hiện qua danh tiếng, địa vị, vị trí mà người đó đạt được trong xã hội hoặc trong một tổ chức, tập thể nào đó.
Biểu hiện của nó thể hiện ở: "TÔI MUỐN ...........".

- Lòng tự trọng đối với bản thân: thể hiện ở sự yêu thích đối với khả năng bản thân, sức mạnh, năng lực, làm chủ, tự tin, độc lập và tự do.
Biểu hiện của nó thể hiện ở: "TÔI THÍCH ...........".

Nhu cầu được tôn trọng vẫn được xem là bản năng, nó là tầng cuối cùng của lớp nhu cầu bản năng. Cả 4 nhóm nhu cầu của lớp này đều được hình thành trong tiềm thức từ khi sinh ra, chỉ khác nhau là sự ưu tiên đối với từng nhóm nhu cầu.


- Tầng 5 - Nhu cầu tự thể hiện:

Cấp độ nhu cầu này đề cập đến việc nhận ra năng lực đầy đủ của một người.
Maslow giải thích nhu cầu này là mong ước có thể làm được tất cả những gì mà người đó có khả năng, để trở thành phiên bản tốt nhất của chính mình. 

Mỗi cá nhân có nhận thức hoặc chú ý đến nhu cầu này khác biệt nhau. Có người thì mong muốn có sức mạnh, người thì muốn trở thành cha mẹ lý tưởng, người thì muốn thắng các cuộc thi thế vận hội, hoặc là sáng tạo nghệ thuật, chụp ảnh, phát minh... Ông tin rằng muốn hiểu rõ nhu cầu tự thể hiện này, người đó không chỉ thành công ở những cấp độ trước của tháp nhu cầu, mà còn kiểm soát được chúng. 

Những "thuật ngữ" như hoài bão, sứ mệnh, đam mê, sở trường.. đều có sự liên quan mật thiết đến tầng nhu cầu này.

Ta có thể hiểu rằng đây là nhu cầu mà một người tự trả lời cho câu hỏi: "Ta là ai, ta sinh ra để làm gì, ta có thể làm được gì?".

Đây không phải là nhu cầu mang tính bản năng. Nó được hình thành dựa trên sự nhận thức và sự trải nghiệm của "một tư duy tốt". Người hiểu rõ mình cần gì ở mức nhu cầu này, thường là người kiểm soát được mình ở 4 cấp nhu cầu bản năng trước đó.

Biểu hiện của nó thể hiện ở: "TÔI THÍCH ...........".

Khi một người đã đáp ứng được một mức nhất định ở nhu cầu này, việc chuyển tiếp nhu cầu có thể có hoặc không xảy ra. Nói cách khác, đây có thể là tầng nhu cầu cuối cùng hoặc có thể không, tùy vào mỗi người khác nhau.


- Tầng 6 - Nhu cầu siêu việt:

Trong những năm cuối đời, Abraham Maslow đã khám phá thêm một chiều động lực, đồng thời chỉ trích tầm nhìn ban đầu của ông về nhu cầu tự thể hiện. 

Theo lý thuyết sau này, mỗi người có thể tìm thấy sự nhận thức đầy đủ nhất trong việc đưa bản thân mình vào một thứ gì đó vượt ra ngoài bản thân. 

Ví dụ, trong lòng vị tha hoặc tâm linh. Ông đánh đồng điều này với mong muốn đạt đến "vô hạn". 

"Siêu việt đề cập đến mức độ cao nhất và toàn diện nhất của ý thức con người, trong hành xử và liên hệ, đối với người khác, đối với xã hội loài người, đối với các loài khác, đối với tự nhiên và đối với vũ trụ ".

Rất khó hiểu!

Nó có thể được hiểu như mong muốn của sự thoát ly với cái bình thường, sự tôn thờ ở mức tối cao, mong muốn một điều gì đó vĩ đại cho dân tộc - xã hội - nhân loại, những mong muốn có tính chất phi thường.

Tháp Nhu Cầu Maslow.
Hình ảnh minh họa



- Các biến thể:

Hệ thống nhu cầu Maslow là một lý thuyết xã hội, nên sự phản bác - sửa đổi diễn ra liên tục.

Các biến thể có thể kể đến như tiếp cận ngược tháp nhu cầu (ứng dụng trong kinh tế), tháp nhu cầu mở rộng (8 bậc) v.v...

Tuy nhiên, những biến thể này không được chấp nhận bởi số đông.

Ví dụ, nhu cầu nhận thức và nhu cầu thẩm mỹ được thêm vào để mở rộng tháp nhu cầu (8 tầng). Nhưng, nhu cầu nhận thức có thể được xem là nhu cầu thiết yếu của an toàn cảm xúc; nhu cầu thẩm mỹ có thể được xem là một hình thái của nhu cầu được tôn trọng.

----------------------------------------------------

- Sự đáp ứng nhu cầu không nói lên xấu - tốt, và nó không được dùng để phán xét người xấu - người tốt. Ai cũng cần đáp ứng một mức nhất định từng nhóm nhu cầu.
Ví dụ: 
Đói thì phải ăn, mệt thì phải ngủ - nghỉ, nó là những sự thiết yếu.
Tình dục là một nhu cầu, nó không phải là xấu hay tốt.
Sự hấp dẫn bản năng (gây ấn tượng) là một nhu cầu: diện mạo, ăn nói, thể hiện...
"Nổ", "chém gió" là nhu cầu muốn được tôn trọng, muốn hãnh diện. Nó rất bình thường.
Người có tiền họ có thể ăn sang, mặc đẹp, mua đồ đắc tiền.. đó là nhu cầu, đừng phán xét người ta.
v.v...

- Sự đáp ứng thái quá bản năng, hoặc đáp ứng bản năng vượt nguồn lực, có thể được xem là đặc điểm tiêu cực (nhưng chưa hẳn đó là người xấu).
Ví dụ:
Ngủ, nghỉ, giải trí quá nhiều, phí phạm thời gian.
Quá chú trọng tình dục, hay cuộc sống chỉ xoay quanh tình dục là một người "tiêu cực".
Lo sợ quá đáng đối với bệnh tật, chết chóc.. là đặc điểm tiêu cực, nó làm mất thời gian và tâm huyết sống.
Không có tiền nhưng cố vay mượn để mua sắm, khoe mẽ một cách không mục đích là tiêu cực.
Ăn uống, tiêu pha, mua sắm vượt quá thu nhập, ở một mức độ nào đó là tiêu cực.
v.v...

- Chỉ có thể đánh giá việc xấu - việc tốt hay người xấu - người tốt dựa vào: luật pháp, mục đích và sự ảnh hưởng với người khác - xã hội.
Ví dụ: Để đáp ứng nhu cầu được hãnh diện (kiếm tiền, địa vị...), người đó sẵn sàng vi phạm pháp luật (hoặc/và) gây hại người khác, thì đó là hành động xấu (người xấu). Nhu cầu được hãnh diện không phải là nhu cầu xấu, quá trình và sự coi thường pháp luật đã làm cho nó bị coi là xấu.
Chúng ta nên hạn chế đến mức tối thiểu "sự phán xét" người khác trên nguyên lý của nhu cầu. Nhu cầu không đại diện cho cái xấu.

- Bốn nhu cầu đầu tiên (bản năng) là nhu cầu vô thức. Nó có sẵn trong mỗi người và ai cũng phải có (mức độ có thể khác nhau). Hai nhu cầu sau là nhu cầu do trải nghiệm, có thể có, cũng có thể không.


ỨNG DỤNG CỦA HỆ THỐNG NHU CẦU MASLOW.


1. Ứng dụng trong kinh doanh và marketing.


- Ta kinh doanh sản phẩm (hoặc/và) dịch vụ đáp ứng tầng nhu cầu nào?

- Ai là những người sẽ sử dụng sản phẩm - dịch vụ đó (phân khúc khách hàng)?

- Họ có thể chi bao nhiêu cho nó (sự bức thiết)?

- Ta có thể mở rộng sản phẩm - dịch vụ đó để đáp ứng nhu cầu nhiều hơn không?

- Sự hài lòng ở mức nào là tối ưu đối với tầng nhu cầu đó?

- Dịch vụ khách hàng (tiếp tân, bán hàng, bảo vệ, tư vấn..) đã đáp ứng được các nhu cầu mà khách hàng cần (an toàn, hãnh diện, tự thể hiện, kết nối ...) chưa?

- Làm thế nào để thông điệp quảng cáo gây được sự chú ý của khách hàng tiềm năng?

v.v......


2. Ứng dụng trong quản trị nhân sự.


- Lương, thưởng có xứng đáng và đáp ứng nhu cầu của nhân viên?

- Điều kiện làm việc có đáp ứng nhu cầu an toàn của nhân viên ?

- Văn hóa doanh nghiệp nào là thích hợp cho sự phát triển doanh nghiệp và tâm lý của nhân viên?

- Lộ trình thăng tiến cho từng "loại nhân viên"?

- Cơ hội thể hiện cho từng "loại nhân viên"?

- Nhân sự cần gì ở doanh nghiệp?

v.v...


3. Ứng dụng trong giao tiếp, đọc vị.


- Đối tượng trước mặt ta là ai?

- Họ đang cố đánh lừa ta ở điều gì?

- Họ đang cố thể hiện điều gì?

- Sự thể hiện bản năng (tính bộc trực, chân thành..) ở mức nào?

- Mục đích sống của họ là gì?

- Sự nuông chiều bản thân (đáp ứng bản năng quá đà) đến mức nào?

- Họ đang "kháng cự" (tự bảo vệ) ta ở mức nào?

- Họ đang nghĩ gì và muốn gì ở ta?

v.v....


4. Ứng dụng trong các mối quan hệ, tình bạn, tình yêu.


- Họ muốn gì ở ta? (Cha mẹ với con cái, "bạn" với ta, "bè" với ta, người yêu (vợ/chồng) với ta..).

- Ta đã đáp ứng được gì?

- Ta đã làm họ thất vọng và hài lòng ở những gì?

- Họ đã hiểu về ta như thế nào?

v.v....


5. Ứng dụng trong việc hiểu và kiểm soát bản thân.


- Ta chiều chuộng bản năng ở mức nào?

- Ta hiểu ta như thế nào?

- Ta muốn gì?

- Ta sẽ làm gì?

v.v....


ÁP DỤNG KIẾN THỨC.

Như đã thấy, mô hình hệ thống nhu cầu Maslow có rất nhiều công dụng. Nó có ý nghĩa quan trọng trong mọi mặt của cuộc sống và kinh doanh.

Việc áp dụng một kiến thức mới vào thực tiễn là khó khăn, nó cần thời gian và sự nỗ lực. Nhưng đến khi nó đã là một "phản xạ tự nhiên" thì kiến thức đó "vô hình trung" đã biến thành của ta.

Kiến thức có thực sự là kiến thức hay không? Một người đi học có thực sự là một người "được học" hay không? Sự quyết định nằm ở khả năng thấu hiểu và ứng dụng nó vào trong cuộc sống.

Ta không thể được coi là một người "được học" hệ thống nhu cầu Maslow, nếu ta không thể ứng dụng nó vào thực tiễn của ta. Lúc đó, ta chỉ được coi là người có biết đến hệ thống nhu cầu Maslow trên "lý thuyết" mà thôi.

Mọi kiến thức khác cũng vậy. Hãy là một người "được học", chứ đừng là một người "có học".

Một người "có học" không mang lại lợi ích gì, ngoài cái "dáng vẻ tử tế" và "sự đạo mạo" trong giao tiếp xã hội.

Còn, một người "được học" thì trong phong thái của họ, vẻ tử tế và sự đạo mạo, nó toát ra một cách rất tự nhiên, không cần giả tạo và không thể "copy" được.

Vậy thì, sao ta không là một người mà người khác không thể copy được!

Blog Kinh Doanh & Cuộc Sống.